Bước tới nội dung

Felicity Jones

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Felicity Jones
SinhFelicity Rose Hadley Jones
17 tháng 10, 1983 (42 tuổi)
Birmingham, Anh
Trường lớpCao đẳng Wadham
Nghề nghiệpDiễn viên
Năm hoạt động1996–nay
Phối ngẫu
Charles Guard (cưới 2018)
Con cái2

Felicity Jones, tên đầy đủ là Felicity Rose Hadley Jones (sinh ngày 17 tháng 10 năm 1983), là một nữ diễn viên người Anh. Cô bắt đầu sự nghiệp diễn xuất từ khi còn bé, với vai diễn đầu tiên ở tuổi 12 cho phim The Treasure Seekers (1996). Jones sau đó vào vai nhân vật Ethel Hallow trong phim truyền hình The Worst Witch và phần nối tiếp Weirdsister College. Sau đó cô bỏ ngỏ sự nghiệp diễn xuất một thời gian để theo học tại trường Cao đẳng Wadham, Oxford, nơi cô đã biểu diễn trong vở The Comedy of Errors của Shakespeare cho Hiệp hội Sân khấu Đại học Oxford. Cô cũng vào vai nhân vật Emma Grundy trong chương trình phát thanh The Archers của đài BBC. Năm 2008, cô xuất hiện trong vở kịch The Chalk Garden của nhà hát Donmar Warehouse.

Kể từ năm 2006, Jones đã tham gia diễn xuất trong nhiều dự án điện ảnh, có thể kể đến Northanger Abbey (2007), Brideshead Revisited (2008), Chéri (2009) và The Tempest (2010). Diễn xuất của cô trong phim điện ảnh Like Crazy năm 2011 nhận được nhiều lời khen ngợi từ giới chuyên môn, đồng thời cũng giúp cô nhận được một số giải thưởng, trong đó có cả giải đặc biệt của ban giám khảo Liên hoan phim Sundance 2011. Năm 2014, vai diễn Jane Hawking của cô trong bộ phim Thuyết yêu thương và vai người sống sót sau thảm họa Holocaust trong bộ phim chính kịch lấy bối cảnh lịch sử The Brutalist (2024), mang về cho cô nhiều đề cử từ giải Quả cầu vàng, giải SAG, giải BAFTA và giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất.[1] Năm 2016, Jones xuất hiện trong ba phim điện ảnh Hỏa ngục, Lời thỉnh cầu Quái vật, Rogue One: Star Wars ngoại truyện với vai diễn Jyn Erso, và Ruth Bader Ginsburg trong bộ phim tiểu sử On the Basis of Sex (2018).

Các bộ phim khác của Jones bao gồm tác phẩm siêu anh hùng Người Nhện siêu đẳng 2: Sự trỗi dậy của Người Điện (2014), các phim giật gân True Story (2015) và Hỏa ngục (2016), phim chính kịch giả tưởng Lời thỉnh cầu Quái vật (2016), cùng các bộ phim phát hành trực tuyến như The Aeronauts (2019), The Midnight Sky (2020) và The Last Letter from Your Lover (2021). Cô cũng đóng vai chính trong Train Dreams (2025), bộ phim từng được đề cử giải Oscar cho Phim hay nhất.

Tiểu sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Felicity Rose Hadley Jones sinh ngày 17 tháng 10 năm 1983[2] và lớn lên tại Bournville ở miền nam of Birmingham, Anh.[3][4] Mẹ cô là một nhân viên tiếp thị và cha cô là một nhà báo, họ chia tay khi cô mới ba tuổi, cô cùng anh trai sống với mẹ.[3] Bác của cô làm về kịch nghệ, là người đã tạo nên niềm yêu thích của Jones đối với nghề diễn xuất.[5]

Cô theo học tiếng Anh tại trường Cao đẳng Wadham, Oxford.[6] Cô đã tham gia nhiều vở kịch sinh viên, trong đó có vở Attis mà cô tham gia với vai chính,[7] và vở The Comedy of Errors của Shakespeare cho chuyến lưu diễn tại Nhật của Hiệp hội Sân khấu Đại học Oxford, cùng với Harry Lloyd.[8]

Sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Jones bắt đầu diễn xuất từ ​​năm 11 tuổi tại một lớp học ngoại khóa mang tên Central Junior Television, do đài Central Television tài trợ.[3] Năm 14 tuổi, cô góp mặt trong phần đầu tiên của loạt phim The Worst Witch. Khi loạt phim Weirdsister College ra mắt vào năm 2001, Jones trở lại với vai Hallow. Vai diễn gắn bó lâu dài nhất với cô trong giai đoạn này là trong vở kịch truyền thanh dài tập The Archers của đài BBC Radio 4; tại đây, cô đảm nhận vai Emma Carter cho đến năm 2009.[9]

Jones ngoài ra còn được biết đến nhiều thông qua các vai diễn đầy ấn tượng trong các bộ phim truyền hình The Treasure Seekers, Servants,[10] Cape Wrath, và lồng tiếng cho nhân vật Jyn Erso trong loạt phim hoạt hình mạng Star Wars Forces of Destiny.

Jones tại Liên hoan phim Quốc tế Toronto 2011

Cô từng được mời làm gương mặt đại diện mới của hãng thời trang nổi tiếng Anh quốc Burberry, đã đánh bại rất nhiều những diễn viên, người mẫu và ca sĩ Anh quốc khác để lọt vào mắt xanh của giám đốc sáng tạo Burberry, Christopher Bailey nhờ nét quyến rũ cổ điển của mình. Năm 2011, cô thủ vai nhân vật Miranda trong bộ phim The Tempest (2011) được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn William Shakespeare. Cô còn tham gia vào bộ phim The Invisible Woman với việc thủ vai nhân vật nữ chính đầy nội tâm Nelly Ternan và một vai diễn nhỏ trong phim điện ảnh Người Nhện siêu đẳng 2: Sự trỗi dậy của Người Điện (2014).

Jones đến dự sự kiện của Hiệp hội báo chí nước ngoài ở Hollywood và InStyle trong khuôn khổ Liên hoan phim Quốc tế Toronto 2014 (TIFF 2014).

Một trong những điểm nhấn trong sự nghiệp diễn xuất của Jones là vai diễn Jane Hawking trong Thuyết yêu thương, một bộ phim tự truyện về cuộc đời và mối tình giữa Jane và nhà vật lý lí thuyết nổi tiếng thế giới Stephen Hawking, với Eddie Redmayne vào vai Hawking. Sau khi được người đại diện của mình giới thiệu cho phần kịch bản, Jones đã đọc toàn bộ bản thảo trong một lần đọc, và rất yêu thích vì đây là "một chuyện tình chứ không phải là một bản tự truyện từ đầu chí cuối." Cô tham gia ứng tuyển cho vai diễn, và đạo diễn James Marsh đã nhận cô ngay lúc đó, điều này làm Jones ngạc nhiên vì bình thường cô phải đợi vài tuần để được xác nhận cho một vai diễn nào đó.[11] Jones đã được gặp Jane Hawking và được bà giúp đỡ rất nhiều cho vai diễn.[12] Diễn xuất của cô và Redmayne nhận được vô số lời khen ngợi từ giới chuyên môn và từ công chúng, giúp Jones nhận được đề cử giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất, giải BAFTA cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất, giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất, giải BFCA cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất và giải SAG cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất.

Jones năm 2016

Tháng 2 năm 2015, Jones được tuyển vào vai diễn Jyn Erso trong phần phim ngoại truyện của thương hiệu Star Wars mang tên Rogue One: Star Wars ngoại truyện, do Gareth Edwards đạo diễn.[13] Người đại diện của Jones đã gợi ý cho cô vai diễn này, và cô cảm thấy thích thú trước hành trình tìm hiểu nguồn gốc bản thân của nhân vật này.[14] Phim được công chiếu vào tháng 12 năm 2016 với nhiều lời khen ngợi và hiệu ứng tích cực từ giới phê bình điện ảnh cũng như khán giả, và đã thu về hơn 1 tỉ USD toàn cầu. Cũng trong năm 2016, Jones xuất hiện trong bộ phim trinh thám Hỏa ngục, vào vai bác sĩ phụ tá của giáo sư Robert Langdon. Theo lời đạo diễn Ron Howard, điều kiện duy nhất của Jones khi ký hợp đồng với bộ phim là bảo đảm cho cô có một ngày nghỉ để cô có thể đến xem đứa con mới chào đời của anh trai mình. Sau khi đồng ý với vai diễn, cô đã tới tham quan các bảo tàng và khu triển lãm để hiểu thêm về nhân vật của mình.[15]

Năm 2017, Jones được công bố là đại sứ thương hiệu toàn cầu của Clé de Peau Beauté.[16]

Vào cuối năm 2018, Jones đóng vai chính trong On the Basis of Sex, bộ phim tiểu sử về Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ Ruth Bader Ginsburg, do Mimi Leder đạo diễn, với sự tham gia của các bạn diễn Armie Hammer và Justin Theroux.[17]

Năm 2023, Jones tham gia bộ phim Dead Shot,[18] cùng với Aml Ameen, Mark Strong và Sophia Brown[19] Jones đã góp mặt trong bộ phim The Brutalist năm 2024, vào vai người vợ sống sót sau thảm họa Holocaust; vai diễn này đã mang về cho cô một đề cử Giải Oscar cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất.[1]

Đời tư

[sửa | sửa mã nguồn]

Jones gặp nghệ sĩ Ed Fornieles tại Đại học Oxford khi anh đang theo học tại Trường Nghệ thuật Ruskin,[9][20] và họ đã hẹn hò từ năm 2003 đến năm 2013.[9][21]

Năm 2015, Jones bắt đầu mối quan hệ với đạo diễn Charles Guard. Họ đính hôn vào tháng 5 năm 2017[22] và kết hôn vào tháng 6 năm 2018.[23] Họ có hai người con: một con trai sinh năm 2020[24][25] và một cô con gái vào năm 2022.[26][27]

Danh sách phim

[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Phim Vai diễn Ghi chú Tham khảo
2008 Flashbacks of a Fool Ruth (trẻ) [28]
Brideshead Revisited Cordelia Flyte [29]
2009 Chéri Edmée [30]
2010 Cemetery Junction Julie Kendrick [31]
Soulboy Mandy Hodgson [32]
The Tempest Miranda [33]
2011 Chalet Girl Kim Matthews [34]
Like Crazy Anna Gardner [35]
Albatross Beth Fischer [36]
Hysteria Emily Dalrymple [37]
2012 Cheerful Weather for the Wedding Dolly Thatchem [38]
2013 Breathe In Sophie [39]
The Invisible Woman Nelly Ternan [40]
2014 Người Nhện siêu đẳng 2: Sự trỗi dậy của Người Điện Felicia Hardy [41]
Thuyết yêu thương Jane Wilde Hawking [42]
2015 True Story Jill Barker [43]
2016 Collide Juliette [44][45]
A Monster Calls Mum [46]
Hỏa ngục Sienna Brooks [47]
Rogue One: Star Wars ngoại truyện Jyn Erso [48]
2018 Leading Lady Parts Chính mình Phim ngắn [49]
On the Basis of Sex Ruth Bader Ginsburg [50]
2019 The Aeronauts Amelia Wren [51]
2020 Dragon Rider Sorrell Lồng tiếng [52]
The Midnight Sky Iris Sullivan [53]
2021 The Last Letter from Your Lover Ellie Haworth Đồng giám đốc sản xuất [54]
2023 Dead Shot Catherine Đồng giám đốc sản xuất [55]
2024 The Brutalist Erzsébet Tóth [56]
2025 Train Dreams Gladys Grainer [57]
100 Nights of Hero Moon/ người dẫn chuyện [58]
Oh. What. Fun. Channing Clauster [59]
TBA Eleven Missing Daysdagger Agatha Christie Đang ghi hình [60]

Truyền hình

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Phim Vai diễn Ghi chú Tham khảo
1996 The Treasure Seekers Alice Bastable Phim truyền hình [61]
1998–1999 The Worst Witch Ethel Hallow 11 tập [62]
2001 Cô phù thủy nghịch ngợm Ethel Hallow 13 tập [63]
2003 Servants Grace May 6 tập [64]
2007 Northanger Abbey Catherine Morland Phim truyền hình [65]
Cape Wrath Zoe Brogan 8 tập [66]
2008 Doctor Who Robina Redmond Tập: "The Unicorn and the Wasp" [67]
2009 The Diary of Anne Frank Margot Frank 5 tập [68]
2011 Page Eight Julianne Worricker Phim truyền hình [69]
2014 Salting the Battlefield [70]
Girls Dottie Tập: "Role-Play" [71]
2017 Star Wars Forces of Destiny Jyn Erso Lồng tiếng; 2 tập [72]

Sân khấu

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tên Rạp hát Vai diễn Tham khảo
2005–2006 The Snow Queen Newbury Theatre Gerda [73]
2007 That Face Royal Court Theatre Mia [74]
2008 The Chalk Garden Donmar Warehouse Laurel [75]
2011 Luise Miller Luise Miller [76]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 Lewis, Hilary (ngày 23 tháng 1 năm 2025). "Oscars: Full List of Nominees". The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2025.
  2. ↑ "Felicity Jones Biography: Film Actress (1983–)". Biography.com (FYI / A&E Networks). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2016.
  3. 1 2 3 Cadwalladr, Carole (ngày 20 tháng 2 năm 2011). "Felicity Jones: 'There's a sensation when you're performing of release'". The Observer. London. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. Cô lớn lên ở Bournville, một ngôi làng kiểu mẫu nằm ở phía nam Birmingham. Cha mẹ cô gặp nhau khi cùng làm việc tại tờ "Wolverhampton Express and Star" lúc cả hai mới ngoài đôi mươi. "Mẹ tôi làm trong ngành quảng cáo còn cha tôi là nhà báo. Tuy nhiên, họ chia tay khi tôi mới ba tuổi, và tôi lớn lên trong một gia đình chỉ có mẹ. Mẹ là người đã nuôi nấng anh em tôi.".'
  4. ↑ Young, Graham (ngày 21 tháng 2 năm 2014). "Acting is like a drug, something Felicity Jones can't live without". Birmingham Post. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2016.
  5. ↑ "Rogue One star Felicity Jones: 'I can still be quite incognito'". The Telegraph (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2017.
  6. ↑ Singh, Anita (ngày 15 tháng 1 năm 2015). "Felicity Jones: from The Archers to the Oscars". The Daily Telegraph. UK. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2016.
  7. ↑ Moss, Deborah (ngày 9 tháng 6 năm 2005). "Mythologies". The Oxford Student. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2010.
  8. ↑ "Who is Felicity Jones? Things you didn't know about the Rogue One star". Birmingham Mail. ngày 9 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2021.
  9. 1 2 3 Grant, Olly (ngày 31 tháng 7 năm 2011). "Felicity Jones: rising star". The Daily Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011.
  10. ↑ "Drama – Servants". BBC. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012.
  11. ↑ "Felicity Jones on The Theory of Everything and Meeting the Real Mrs. Stephen Hawking". Vogue. ngày 6 tháng 11 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2021.
  12. ↑ Nianas, Helen. "Stephen Hawking's ex-wife Jane: 'I thought Felicity Jones was me' in Oscar-nominated The Theory of Everything". Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2021.
  13. ↑ Kroll, Justin (ngày 3 tháng 2 năm 2015). "Felicity Jones to Play Lead Role in 'Star Wars' Spinoff Movie". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2021.
  14. ↑ Woerner, Meredith (ngày 15 tháng 12 năm 2016). "Felicity Jones, the heroine of 'Rogue One: A Star Wars Story,' projects calm despite a galaxy of chaos". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2021.
  15. ↑ Siegel, Tatiana (ngày 12 tháng 10 năm 2016). "Felicity Jones on 'Rogue One' Reshoots, 'Inferno' Reluctance and Anton Yelchin's "Devastating" Death". Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2021.
  16. ↑ "Felicity Jones named as new face of Cle de Peau Beaute". HELLO! (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2023.
  17. ↑ "Kathy Bates, Justin Theroux Join Felicity Jones in Ruth Bader Ginsburg Biopic". The Hollywood Reporter. ngày 2 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2018.
  18. ↑ "Dead Shot". Screen Scotland. ngày 19 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2023.
  19. ↑ Grater, Tom (ngày 12 tháng 4 năm 2022). "Aml Ameen, Colin Morgan & Sophia Brown Join Felicity Jones & Mark Strong In Thriller 'Borderland' As Filming Gets Underway". Deadline Hollywood. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2022.
  20. ↑ Eden, Richard (ngày 12 tháng 1 năm 2014). "Spider-Man 2 star Felicity Jones splits up with artist". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2014.
  21. ↑ Eyre, Hermione (ngày 26 tháng 3 năm 2010). "The dream team: Ricky Gervais's bright young things". London Evening Standard. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2010.
  22. ↑ Mizoguchi, Karen (ngày 18 tháng 5 năm 2017). "Felicity Jones Is Engaged". Vogue. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2017.
  23. ↑ Swertlow, Meg (ngày 1 tháng 7 năm 2018). "Felicity Jones Marries Director in Secret Wedding". E! News. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2018.
  24. ↑ Goldstein, Joelle (ngày 4 tháng 12 năm 2019). "Felicity Jones Expecting First Child With Husband Charles Guard". People.com. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2019.
  25. ↑ VanHoose, Benjamin (ngày 14 tháng 12 năm 2020). "Felicity Jones Says Parenting Her Son, 8 Months, Is 'Just a Rollercoaster of Fatigue'". People. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2020.
  26. ↑ Ritman, Alex (ngày 11 tháng 12 năm 2024). "'The Brutalist' Star Felicity Jones on the 'Element of Defiance' in Her Golden Globe-Nominated Performance and Being Open to a 'Star Wars' Return: 'There's Unfinished Business'". Variety (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2024.
  27. ↑ "Felicity Jones Has the Most Relatable Parenting Reason for Why She Doesn't Get Out Much (Exclusive)". People.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2024.
  28. ↑ "Flashbacks of a Fool (2008)". British Film Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
  29. ↑ "Brideshead Revisited (2008)". British Film Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
  30. ↑ "Chéri (2009)". British Film Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
  31. ↑ "Cemetery Junction (2010)". British Film Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
  32. ↑ "Soulboy (2010)". British Film Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
  33. ↑ "The Tempest (2011)". British Film Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
  34. ↑ "Chalet Girl (2011)". British Film Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
  35. ↑ Ebert, Roger (ngày 2 tháng 11 năm 2011). "Like Crazy Movie Review & Film Summary (2011)". Roger Ebert. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
  36. ↑ Bradshaw, Peter (ngày 13 tháng 10 năm 2011). "Albatross – review". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016.
  37. ↑ Rooney, David (ngày 12 tháng 9 năm 2011). "Hysteria: Toronto Review". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016.
  38. ↑ Holden, Stephen (ngày 6 tháng 12 năm 2012). "There Will Always Be a Fantasy England". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016.
  39. ↑ Bradshaw, Peter (ngày 18 tháng 7 năm 2013). "Breathe In – review". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016.
  40. ↑ Cheshire, Godfrey (ngày 25 tháng 12 năm 2013). "The Invisible Woman Movie Review & Film Summary (2013)". Roger Ebert. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016.
  41. ↑ Bradshaw, Peter (ngày 17 tháng 4 năm 2014). "The Amazing Spider-Man 2 review – appealing leads and zappy scraps, but a sense of deja vu". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
  42. ↑ Nianias, Helen (ngày 25 tháng 2 năm 2015). "Stephen Hawking's ex-wife Jane: 'I thought Felicity Jones was me' in Oscar-nominated The Theory of Everything". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
  43. ↑ Kenny, Glenn (ngày 16 tháng 4 năm 2015). "True Story Movie Review & Film Summary (2015)". Roger Ebert. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016.
  44. ↑ D'Alessandro, Anthony (ngày 29 tháng 9 năm 2016). "Felicity Jones-Nicholas Hoult Vehicle 'Collide' Back on Track For Winter 2017". Deadline. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
  45. ↑ "Collide (2016)". Box Office Mojo. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016.
  46. ↑ Debruge, Peter (ngày 11 tháng 9 năm 2016). "Film Review: 'A Monster Calls'". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016.
  47. ↑ Lemire, Christy (ngày 27 tháng 10 năm 2016). "Inferno Movie Review & Film Summary (2016)". Roger Ebert. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2016.
  48. ↑ McCluskey, Megan (ngày 12 tháng 8 năm 2016). "Felicity Jones on Why Rogue One's Jyn Erso Is an 'Unlikely Heroine'". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016.
  49. ↑ Gove, Ed (ngày 3 tháng 9 năm 2018). "Leading Lady Parts: Exposing sexist stereotypes". Royal Television Society. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2021.
  50. ↑ "'On The Basis of Sex' Adds Justin Theroux & Kathy Bates To Round Out Cast". ngày 2 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2017.
  51. ↑ Wiseman, Andreas (ngày 15 tháng 8 năm 2018). "Felicity Jones-Eddie Redmayne Ballooning Pic 'The Aeronauts' Under Way In UK, Amazon Releases Striking First-Look". Deadline. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2018.
  52. ↑ "Felicity Jones Joins 'Dragon Rider' Animated Movie". Variety. ngày 9 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2019.
  53. ↑ "Felicity Jones Joins George Clooney Netflix 'Good Morning, Midnight' Film Adaptation". Deadline. ngày 9 tháng 7 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2019.
  54. ↑ "Felicity Jones & Shailene Woodley To Star In & Exec Produce 'The Last Letter From Your Lover'; Studiocanal & Blueprint Aboard". Deadline. ngày 10 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2019.
  55. ↑ Grater, Tom (ngày 12 tháng 4 năm 2022). "Aml Ameen, Colin Morgan & Sophia Brown Join Felicity Jones & Mark Strong In Thriller 'Borderland' As Filming Gets Underway". Deadline. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2022.
  56. ↑ Raup, Jordan (ngày 27 tháng 3 năm 2023). "Brady Corbet's The Brutalist Heads into Production with New Cast". The Film Stage. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2023.
  57. ↑ Grobar, Matt (ngày 7 tháng 2 năm 2024). "Joel Edgerton, Felicity Jones To Star In 'Jockey' Helmer Clint Bentley's 'Train Dreams'; Black Bear Introducing To Buyers At EFM". Deadline Hollywood. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2024.
  58. ↑ Grobar, Matt (ngày 19 tháng 11 năm 2024). "Richard E. Grant, Amir El-Masry & Felicity Jones Among Final Additions To '100 Nights Of Hero'". Deadline Hollywood. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2024.
  59. ↑ Kit, Borys (ngày 3 tháng 4 năm 2024). "Chloë Grace Moretz, Dominic Sessa Join Amazon MGM Holiday Comedy 'Oh. What. Fun.' (Exclusive)". Hollywood Reporter. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2024.
  60. ↑ Wiseman, Andreas (ngày 8 tháng 6 năm 2026). "Ryan McParland, Alfie Allen, Ben Hardy & Stacy Martin Join Vincent Cassel & Felicity Jones In Agatha Christie Pic 'Eleven Missing Days'". Deadline Hollywood. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2026.
  61. ↑ "The Treasure Seekers (1996)". British Film Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
  62. ↑ Lazarus, Susanna (ngày 16 tháng 5 năm 2016). "The Worst Witch remake has cast its Mildred Hubble". Radio Times. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2016.
  63. ↑ Guerrasio, Jason (ngày 7 tháng 4 năm 2016). "Meet Felicity Jones, the Oscar-nominated actress starring in the next 'Star Wars' movie". Business Insider. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2016.
  64. ↑ "Servants". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016.
  65. ↑ "Northanger Abbey (2007)". British Film Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
  66. ↑ English, Paul (ngày 7 tháng 7 năm 2007). "The Dark Secrets Behind the Cape". Daily Record. Scotland. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016.
  67. ↑ "The Unicorn and the Wasp (2008)". British Film Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016.
  68. ↑ "The Diary of Anne Frank". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016.
  69. ↑ "Page Eight (2011)". British Film Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016.
  70. ↑ "Salting the Battlefield (2014)". British Film Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016.
  71. ↑ Nicholson, Rebecca (ngày 10 tháng 3 năm 2014). "Girls recap: season three, episode 10 – Role Play". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016.
  72. ↑ Breznican, Anthony (ngày 13 tháng 4 năm 2017). "Star Wars highlights female heroes in Forces of Destiny – first look". Entertainment Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2017.
  73. ↑ "Creation Theatre Company – The Snow Queen". Newbury Theatre. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012.
  74. ↑ Hemming, Sarah (ngày 25 tháng 4 năm 2007). "That Face, Royal Court Upstairs, London". Financial Times. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016.
  75. ↑ Billington, Michael (ngày 12 tháng 6 năm 2008). "The Chalk Garden". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016.
  76. ↑ Billington, Michael (ngày 13 tháng 6 năm 2011). "Luise Miller – review". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2016.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]