Bước tới nội dung

T.O.P

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
T.O.P
T.O.P tại buổi hòa nhạc 0.TO.10 vào tháng 8 năm 2016
SinhChoi Seung-hyun
4 tháng 11, 1987 (38 tuổi)
Seoul, Hàn Quốc
Nghề nghiệp
  • Rapper
  • người viết lời
  • người soạn nhạc
  • nhà sản xuất âm nhạc
  • diễn viên
  • nhà từ thiện
Năm hoạt động2006–nay
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụGiọng hát
Hãng đĩa
Cựu thành viên của
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
최승현
Hanja
崔勝鉉
Romaja quốc ngữChoe Seung-hyeon
McCune–ReischauerCh'oe Sŭnghyŏn
Hán-ViệtThôi Thắng Huyền
Chữ ký

Choi Seung-hyun (tiếng Hàn: 최승현; Hanja: 崔勝鉉; Hán-Việt: Thôi Thắng Huyền; sinh ngày 4 tháng 11 năm 1987), được biết đến với nghệ danh T.O.P, là một rapper, nhạc sĩ, nhà từ thiện,[1] và diễn viên người Hàn Quốc.[2] Anh từng hoạt động như một rapper underground trước khi gia nhập hãng thu âm YG Entertainment và ra mắt với tư cách là rapper chính của nhóm nhạc nam BigBang vào năm 2006. Nhóm nhạc này đã trở thành một trong những nhóm nhạc bán chạy nhất mọi thời đại ở châu Á và là một trong những nhóm nhạc nam bán chạy nhất thế giới.[3] Năm 2010, trong thời gian nhóm tạm ngừng hoạt động, T.O.P và G-Dragon đã hợp tác phát hành album GD & TOP. Với tư cách là một rapper solo, anh đã phát hành hai đĩa đơn kỹ thuật số, "Turn It Up" (2010) và "Doom Dada" (2013), lần lượt đạt vị trí thứ hai và thứ tư trên bảng xếp hạng Gaon Digital Chart.

T.O.P ra mắt với vai trò diễn viên vào năm 2007 thông qua bộ phim truyền hình "I Am Sam" (2007), tiếp theo là "Mật danh Iris" (2009) và phim truyền hình "Nineteen" (2009). Anh ra mắt điện ảnh với 71: Into the Fire (2010), Nhờ đó, anh nhận được nhiều lời khen ngợi và giành được nhiều giải thưởng, trong đó có giải Nam diễn viên mới xuất sắc nhất tại Giải thưởng điện ảnh Rồng Xanh 2010 và Giải thưởng nghệ thuật Baeksang 2011. Sau đó, anh đảm nhận vai chính trong phim Commitment (2013), nhờ đó anh được trao giải "Nam diễn viên mới xuất sắc nhất châu Á" tại Liên hoan phim quốc tế Busan và Tazza: The Hidden Card (2014). Năm 2024, T.O.P thủ vai Choi Su-bong / Thanos trong mùa thứ 2 của loạt phim giật gân sinh tồn giả tưởng của Netflix Trò chơi con mực.

Cuộc đời và sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

1987–2006: Khởi đầu sự nghiệp và ra mắt cùng BigBang

[sửa | sửa mã nguồn]
BigBang tại MTV Fast Forward, Thái Lan, tháng 12 năm 2007

Choi Seung-hyun sinh ra tại quận Songpa, Seoul, Hàn Quốc.[cần dẫn nguồn] Anh là cháu trai của nghệ sĩ nghệ thuật trừu tượng tiên phong của Triều Tiên Kim Whanki và lớn lên trong môi trường tiếp xúc với nghệ thuật nhờ gia đình.[4][5] Choi bắt đầu quan tâm đến hip hop từ khi còn nhỏ.[6] Anh và người bạn cùng nhóm BigBang tương lai Kwon Ji-yong là "bạn hàng xóm từ thời trung học" và thường xuyên nhảy múa và rap cùng nhau.[7] Mặc dù sau đó Kwon chuyển đi nơi khác và hai người "trở nên xa cách", nhưng Kwon đã liên lạc với Choi khi YG Entertainment, công ty quản lý của Kwon, đang tìm kiếm những ứng viên tiềm năng để thành lập một nhóm nhạc nam.[7] Vào thời điểm đó, Choi đã biểu diễn trên nhiều sân khấu ngầm tại các câu lạc bộ hip hop[8] và tạo dựng được danh tiếng là một rapper ngầm với nghệ danh Tempo.[9] Năm 2003, dưới nghệ danh Tempo, anh đã giành chiến thắng trong cuộc thi Rap Battle của đài KBS Radio.[10] Sau khi liên lạc, Choi đã thu âm một số bản demo với Kwon và gửi chúng cho Yang Hyun-suk, CEO của YG Entertainment, người sau đó đã đề nghị anh tham gia thử giọng.[9] Ban đầu, Choi bị công ty thu âm từ chối vì cho rằng anh quá "mập" so với "hình mẫu lý tưởng" của một thần tượng.[9] Sau đó, anh "về nhà và tập luyện chăm chỉ vì muốn gia nhập YG Entertainment."[9] giảm 20 kg trong 40 ngày.[9] 6 tháng sau, Choi trở lại trong buổi thử giọng khác và được ký hợp đồng

Được nghệ sĩ kỳ cựu Seven đặt nghệ danh T.O.P. (탑),[11] anh trở thành 1 trong 2 rapper cùng G-Dragon (nghệ danh của Kwon) trong nhóm BigBang. Hai người được ghép cặp với bốn người khác: Taeyang, Daesung, Seungri và Hyunseung và một bộ phim tài liệu ghi lại quá trình chuẩn bị cho màn ra mắt của họ đã được phát sóng để quảng bá cho họ.[12] Hyunseung sau đó bị loại bởi Yang, và BigBang ra mắt chính thức với 5 thành viên.[13] Album phòng thu đầu tiên của họ, Big Bang Vol. 1 - Since 2007, nhận được sự đón nhận không mấy nồng nhiệt,[14] và bao gồm bài hát solo đầu tiên của T.O.P. "Big Boy". Nhóm nhạc này đã đạt được thành công vang dội với việc phát hành bài hát "Lies" (거짓말; Geojitmal) từ đĩa mở rộng Always (2007), nó này đã đứng đầu nhiều bảng xếp hạng khi phát hành. Các đĩa đơn, "Last Farewell" (마지막 인사; Majimak Insa) từ Hot Issue (2008) và "Day by Day" (하루하루; Haru Haru) từ Stand Up (2008), trở thành những bài hát đứng đầu bảng xếp hạng.[15][16]

2007–2010: Phát triển sự nghiệp cá nhân, chuyển sang diễn xuất, và GD & TOP

[sửa | sửa mã nguồn]
T.O.P tạo dáng chụp ảnh quảng cáo cho điện thoại LG năm 2009.

Sau khi phát hành các album và đĩa đơn của nhóm, T.O.P. bắt đầu sự nghiệp solo. Vào tháng 4 năm 2007, anh hợp tác với các thành viên BigBang khác là Taeyang và G-Dragon trong đĩa đơn "Super Fly" của ca sĩ Lexy cho album "Rush" của cô. Sau đó vào mùa hè năm đó, anh xuất hiện với vai trò diễn viên trong video âm nhạc "Hello" của Red Roc.[17] Anh trở thành thành viên đầu tiên của BigBang thử sức với diễn xuất, đóng vai chính trong bộ phim truyền hình I Am Sam trên kênh KBS2,[18] võ sĩ hàng đầu của trường, Chae Musin. Mặc dù muốn sử dụng nghệ danh khi diễn xuất, vì tin rằng nó phản ánh khía cạnh chuyên nghiệp hơn của mình, anh thường được ghi tên thật, với nghệ danh được thêm vào trong ngoặc đơn.[6] Anh cũng trở thành người dẫn chương trình âm nhạc Music Core của MBC.

Trong khi quảng bá các sản phẩm của nhóm vào năm 2008, TOP đã xuất hiện trong các bản thu âm của các nghệ sĩ khác, bao gồm Gummy cho bài hát "I'm Sorry" trong album Comfort của cô, ca sĩ kỳ cựu Uhm Jung-hwa cho đĩa đơn "D.I.S.C.O." và ZiA cho đĩa đơn "I Only See You". Cùng năm đó, anh được nhận vào khoa sân khấu của Đại học Dankook.[19] Cùng năm đó, T.O.P. thủ vai sát thủ Vick trong bộ phim truyền hình được giới phê bình đánh giá cao[20] Mật danh Iris (2009).[21] Anh cũng đã thu âm bài hát "Hallelujah" cho nhạc phim cùng với Taeyang và G-Dragon. Sau Mật danh Iris, T.O.P. đóng vai chính trong phim 19-Nineteen cùng với thành viên cùng nhóm Seungri.[22] Bô đôi phát hành đĩa đơn "Because" cho nhạc phim.

T.O.P biểu diễn với G-Dragon năm 2011

Màn trình diễn của T.O.P trong phim chiến tranh năm 2010 71: Into the Fire đã được đón nhận nồng nhiệt, giúp anh giành được một số giải thưởng Nam diễn viên mới xuất sắc nhất tại các lễ trao giải địa phương.[23] Bộ phim cũng thu hút một triệu lượt người xem trong một tuần.[24] Cùng lúc đó, T.O.P bắt đầu chuẩn bị cho màn ra mắt âm nhạc solo của mình.[25] Trong buổi hòa nhạc Big Show của BigBang vào tháng 1 năm 2010, T.O.P. đã trình diễn ca khúc mới "Turn It Up".[26] Được phát hành dưới dạng đĩa đơn kỹ thuật số, nó đạt vị trí thứ hai,[27] và bán được hơn 1,3 triệu lượt tải xuống vào cuối năm 2010.[28]

Cuối năm đó, T.O.P và G-Dragon tạo nên một nhóm phụ để phát hành album GD & TOP (2010).[29] Trước khi phát hành album, bộ đôi đã tổ chức buổi giới thiệu ra mắt album trên toàn thế giới tại Quảng trường Thời đại ở Yeongdeungpo, Seoul, Hàn Quốc,[30] buổi giới thiệu này cũng được phát sóng trực tiếp trên YouTube.[31] 3 đĩa đơn được phát hành hỗ trợ album: "High High", "Oh Yeah", và "Knock Out".[32] Cả ba đĩa đơn đều được phát hành trước album và đạt được thành công về mặt thương mại: "Knock Out" đứng đầu bảng xếp hạng[33] trong khi "Oh Yeah" và "High High" đều đạt vị trí cao nhất lần lượt là thứ hai và thứ ba.[34][35] Album được phát hành vào đêm Giáng sinh và ngay lập tức đứng đầu bảng xếp hạng khi ra mắt[36] với 200.000 bản đặt trước.[37]

2011–2016: Tập trung vào diễn xuất và các hoạt động khác

[sửa | sửa mã nguồn]
T.O.P biểu diễn tại Alive World Tour vào tháng 9 năm 2012

Từ 2011 đến 2012, T.O.P tham gia tích cực vào các hoạt động quảng bá của BigBang cho các EP Tonight (2011) và Alive (2012) bao gồm chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới kéo dài mười tháng trên bốn châu lục. Sau khi các hoạt động nhóm kết thúc, anh tập trung trở lại vào diễn xuất, đóng vai chính trong bộ phim Commitment, vào vai con trai của một điệp viên Triều Tiên bị vu oan.[38][nguồn không đáng tin?][39][nguồn không đáng tin?] T.O.P lần đầu tiên gắn bó với vai diễn này vì anh "cảm thấy đồng cảm với nhân vật chính, Lee Myung Hoon."[40][nguồn không đáng tin?] Trong khi quay một cảnh hành động cho bộ phim, anh bị thương ở mu bàn tay do mảnh kính vỡ và sau đó phải nhập viện để phẫu thuật. Với vai diễn này, anh đã giành được giải thưởng Diễn viên mới xuất sắc nhất tại Lễ trao giải Ngôi sao châu Á, được tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim quốc tế Busan.[41][nguồn không đáng tin?]

T.O.P được tạp chí Rolling Stone bình chọn là một trong những biểu tượng gợi cảm nhất năm 2013.[42] Tháng 11 năm đó, anh phát hành đĩa đơn thứ hai, "Doom Dada".[43] Bài hát lần đầu tiên được trình diễn tại Lễ trao giải MAMA 2013 tại Hồng Kông.[44][nguồn không đáng tin?] Doom Dada Ca khúc này đã giành vị trí số 1 trong Top 10 bài hát K-Pop hay nhất năm 2013 của tạp chí "Dazed", được nhận xét là "vừa lôi cuốn vừa xa lạ... đó là K-Pop nhưng tinh ranh, cuồng nhiệt và khó nắm bắt."[45] Sau đó, anh xuất hiện trong album tiếng Nhật của nghệ sĩ người Anh Pixie Lott cùng với G-Dragon trong bài hát "Dancing on My Own".[46][nguồn không đáng tin?]

Năm 2014, T.O.P đóng vai chính trong bộ phim về cờ bạc Tazza: The Hidden Card, dựa trên bộ manhwa cùng tên. Sau khi ra mắt với tư cách là nhà thiết kế nội thất vào năm 2015, hợp tác với Vitra,[47] anh đã được trao giải thưởng Văn hóa Thị giác tại Lễ trao giải Prudential Eye Awards.[48][nguồn không đáng tin?] Cuối năm đó, anh đóng vai chính trong web drama "The Secret Message" của CJ E&M cùng với nữ diễn viên Nhật Bản Juri Ueno. Mặc dù là một rapper, anh vẫn hát trong đĩa đơn "Hi Haruka" nằm trong nhạc phim của bộ phim.

Sau khi dành phần lớn năm 2015 đi lưu diễn và quảng bá các sản phẩm trong album Made (2016) của nhóm, T.O.P đã được chọn tham gia bộ phim Đức-Trung Quốc Out of Control cùng với nữ diễn viên Hồng Kông Cecilia Cheung. Bộ phim đã dược lên lịch ra mắt ở Trung Quốc.[49]

2017–2019: Nghĩa vụ quân sự và các vấn đề cá nhân và pháp lý về việc sử dụng cần sa

[sửa | sửa mã nguồn]

T.O.P bắt đầu nghĩa vụ quân sự bắt buộc hai năm vào ngày 9 tháng 2 năm 2017, với tư cách là một sĩ quan cảnh sát nghĩa vụ, và dự kiến ​​sẽ được xuất ngũ vào ngày 8 tháng 11 năm 2018 sau khi hoàn thành các yêu cầu.[50] Sau khi tin tức lan truyền vào tháng 6 rằng anh sẽ bị truy tố mà không bị giam giữ vì tội sử dụng cần sa,[51][nguồn không đáng tin?] T.O.P sau đó đã được chuyển đến một đơn vị cảnh sát khác để chờ thông báo truy tố và bị đình chỉ công tác cảnh sát cho đến khi có phán quyết về vụ án của anh.[52][nguồn không đáng tin?] Vài ngày sau thông báo, T.O.P được tìm thấy bất tỉnh trong doanh trại cảnh sát do nghi ngờ dùng quá liều thuốc an thần benzodiazepine theo toa,[53][nguồn không đáng tin?] và đã nhập viện.[54] Ngày 8 tháng 6, mẹ của T.O.P xác nhận rằng anh đã tỉnh lại và đang hồi phục.[55]

Vào ngày 29 tháng 6, tại phiên tòa đầu tiên xét xử tội sử dụng cần sa tại Tòa án Quận Trung tâm Seoul,[56] T.O.P đã nhận tội, thừa nhận rằng anh ta đã hút cần sa bốn lần vào đầu tháng 10 năm 2016[57] và bị quản chế hai năm.[58] Sau khi trải qua cuộc xem xét kỷ luật của cảnh sát để quyết định xem T.O.P nên trở lại làm cảnh sát nghĩa vụ hay hoàn thành nghĩa vụ với tư cách là công chức,[59] T.O.P cuối cùng đã được Bộ Quốc phòng chỉ định trạng thái dự bị và chuyển từ sở cảnh sát[60] để hoàn thành nghĩa vụ bắt buộc với tư cách là một công chức.[61] Ông bắt đầu lại nghĩa vụ công ích với tư cách là cán bộ phục vụ cộng đồng tại Trung tâm Nghệ thuật và Thủ công mỹ nghệ Yongsan ở trung tâm Seoul vào ngày 26 tháng 1 năm 2018.[62] Sau đó T.O.P xuất ngũ vào ngày 6 tháng 7 năm 2019.[63] Việc miễn giảm nghĩa vụ của anh ta diễn ra chính thức hai ngày sau đó.[64]

2019–nay: Tập trung vào nghệ thuật, rời nhóm BigBang, và vai diễn trong Trò chơi con mực

[sửa | sửa mã nguồn]
T.O.P. tại buổi ra mắt phim tài liệu Big Bang Made năm 2016

T.O.P nắm giữ một số kỷ lục trong giới nghệ thuật, trở thành ca sĩ K-pop đầu tiên được vinh danh trong danh sách 200 nghệ sĩ trong giới nghệ thuật của tạp chí Growse.[65][nguồn không đáng tin?] Ngày 7 tháng 2 năm 2022, YG Entertainment thông báo rằng BigBang sẽ trở lại với một ca khúc mới vào ngày 5 tháng 4. Họ cũng thông báo rằng T.O.P đã chấm dứt hợp đồng độc quyền với YG Entertainment. YG thông báo vào thời điểm đó rằng anh sẽ tiếp tục hoạt động cùng nhóm.[66] Tuy nhiên, T.O.P xác nhận vào ngày 31 tháng 5 năm 2023, rằng anh đã rời nhóm.[67]

Vào ngày 4 tháng 12 năm 2024, T.O.P được tiết lộ là một thành viên trong dàn diễn viên của mùa thứ hai của loạt phim Netflix Trò chơi con mực.[68] Anh đóng vai Thanos, một cựu rapper đã mất danh tiếng do một vụ lừa đảo tiền điện tử.[69] Sau khi thử vai, anh đã giành được vai diễn vì nhà sáng tạo loạt phim Hwang Dong-hyuk thích cách tiếp cận "nghiêm túc" của anh.[70] Hwang giải thích rằng anh ấy muốn chọn một người đã ngừng hoạt động vì các vấn đề liên quan đến ma túy, và T.O.P đã giải nghệ khỏi K-pop và rời khỏi BigBang vì bị kết tội liên quan đến cần sa.[71] Để chuẩn bị cho cảnh đánh nhau với Yim Si-wan, cả hai đã tham gia tập luyện để cải thiện sự ăn ý giữa hai người. Trong quá trình tập luyện, T.O.P bị gãy vài xương sườn. Yim sau đó cho biết họ đã tạm dừng quay phim nhưng T.O.P muốn tiếp tục nên họ đã quay lại.[72] Khi được hỏi về cái chết của Thanos, Hwang cho rằng anh ta là một trong những nhân vật yêu thích của mình, tin rằng một cái chết "đầy kịch tính" vào cuối mùa thứ hai là thời điểm hoàn hảo để kết liễu anh ta, và cách mà cốt truyện diễn tiến trong mùa 3 sẽ khiến người xem cảm thấy như thể anh ta vẫn còn hiện diện.[73] T.O.P xuất hiện lần cuối trong tập cuối cùng, trong đó một nhân vật thoáng thấy ảo giác về Thanos.

Việc chọn T.O.P vào vai diễn đã gây tranh cãi ở Hàn Quốc, và khuôn mặt của anh đã bị làm mờ trên chương trình truyền hình buổi sáng Live This Morning của Hàn Quốc khi phát sóng một phân đoạn về bộ phim.[71][74] Việc tuyển chọn diễn viên đã khiến một số khán giả tin rằng Lee Jung-jae, người đóng vai Seong Gi-hun và thân thiết với T.O.P, đã giúp anh có được vai diễn này, một tuyên bố mà Lee đã phủ nhận. Netflix và Hwang đã nhận được chỉ trích vì việc tuyển chọn này, cho rằng nó có thể tạo ra một tiền lệ xấu.[75] T.O.P đã vắng mặt một thời gian tại các sự kiện quảng bá cùng dàn diễn viên.[76] Đáp lại những đồn đoán rằng anh bị loại khỏi các sự kiện quảng bá vì vụ tranh cãi, Hwang cho biết họ đã lên kế hoạch không để anh xuất hiện ngay từ đầu, muốn T.O.P có thể tự mình nói về sự liên quan của mình theo tốc độ phù hợp.[77] Anh cảm thấy rằng anh đã "rất can đảm" khi đồng ý thực hiện màn trình diễn này xét đến lịch sử sử dụng ma túy của mình,[78] và ngạc nhiên rằng anh vẫn chưa được tha thứ.[71] Anh cũng tin rằng phản ứng đối với việc anh được chọn vào vai diễn sẽ không được phản ánh bên ngoài Hàn Quốc do tính hợp pháp và quan điểm khác nhau về việc sử dụng cần sa ở một số quốc gia. Anh cũng tin rằng nhân vật của mình có thể được khán giả trẻ ở Hàn Quốc yêu thích.[77]

Sau khi phát hành, diễn xuất của anh bị chỉ trích bởi những người ở Hàn Quốc, đặc biệt là giọng nói và biểu cảm khuôn mặt của anh không phù hợp, với chất lượng rap của anh nhận được nhiều ý kiến ​​trái chiều.[75] Phản ứng đối với Thanos và màn trình diễn của anh ít tiêu cực hơn từ khán giả quốc tế và truyền thông nước ngoài so với khán giả Hàn Quốc,[79] và được khen ngợi rất nhiều bởi những người bên ngoài Hàn Quốc.[80][81][82] T.O.P. tiếp tục quảng bá Trò chơi con mực trong năm 2025 trong các sự kiện FYC để được xem xét cho Primetime Emmy Award, vì anh được đề cử ở hạng mục Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất trong loạt phim truyền hình.[83][84]

Vào ngày 1 tháng 1 năm 2026, T.O.P thông báo rằng anh sẽ phát hành album solo đầu tiên của anh Another Dimension.[85] Anh sau đó thông báo vào ngày 12 tháng 2 rằng đĩa đơn chính sẽ có tựa đề "Studio 54".[86] Vào ngày 17 tháng 3 năm 2026, T.O.P thông báo đĩa đơn thứ hai của anh mang tên “Desperado”. Vào ngày 20 tháng 3 năm 2026, anh đã thông báo về sự trở lại của mình thông qua mạng xã hội và công ty quản lý, TOPSPOT PICTURES, phát hành album dài đầu tiên của mình, Another Dimension trên nhiều trang web âm nhạc trực tuyến khác nhau vào ngày 3 tháng 4.[87]

Phong cách nghệ thuật

[sửa | sửa mã nguồn]

T.O.P và BigBang đã được khen ngợi vì cá tính riêng và khả năng kết hợp âm thanh pop với các yếu tố rap, R&B và dance.[88] T.O.P sở hữu giọng trầm.[89] Nhà báo Jeff Benjamin của Billboard K-Town lưu ý rằng anh nổi tiếng với chất giọng trầm khi rap,[90] Trong khi đó, nhà báo Tamar Herman viết rằng phần rap của T.O.P là "một phần không thể thiếu trong âm thanh của nhóm" và anh thường ưa chuộng "giọng điệu tự tin, gần như chế giễu".[91] Adrienne Stanley của Kpop Starz cũng khen ngợi rapper này về "tốc độ và độ chính xác" khi thể hiện các câu rap.[41] Cả hai sản phẩm solo của anh – "Turn It Up" và "Doom Dada" – đều chịu ảnh hưởng từ hip hop,[92] ca khúc sau đó nhận được nhiều lời khen ngợi từ giới phê bình nhờ "nhịp điệu trữ tình vừa lôi cuốn vừa xa lạ" theo nhận định của tạp chí Dazed, tạp chí này tuyên bố T.O.P đang dẫn đầu sự phát triển của K-Pop.[93] Ngoài ra, Billboard nhận xét rằng giai điệu của bài hát "có sức hút mãnh liệt với âm thanh tổng hợp vo vo, nhịp điệu bộ lạc và những đoạn hát tụng niệm, tất cả đều trở nên mờ nhạt so với cách thể hiện mạnh mẽ, đa sắc thái của rapper trong các câu hát của mình," khẳng định rằng T.O.P "đã bộc lộ tài năng nghệ thuật thực sự của mình" với bài hát này.[91]

Trong quá trình hợp tác với G-Dragon để thực hiện các sản phẩm âm nhạc cho nhóm nhỏ của mình, cả hai đã thử nghiệm nhiều phong cách khác nhau.[94] Cả hai cùng viết phần lớn lời bài hát và cho biết rằng "với tư cách là những rapper [...] chúng tôi muốn kể nhiều câu chuyện hơn cho người hâm mộ lắng nghe."[94] Trong nỗ lực tạo dựng phong cách riêng biệt, tách khỏi ban nhạc, bộ đôi đã chọn âm thanh hip hop để tạo sự tương phản với thể loại nhạc điện tử mà BigBang đang theo đuổi lúc bấy giờ, mặc dù họ cũng thừa nhận ảnh hưởng của thể loại này cùng với R&B và nhạc acoustic. Bộ đôi cũng thừa nhận đã trở nên "đa dạng hơn nhiều trong nỗ lực" tạo dựng phong cách riêng, thích kết hợp nhiều thể loại với nhau để "thể hiện cá tính riêng mà chúng tôi không có cơ hội thể hiện khi còn là Big Bang".[94]

T.O.P thường chỉnh sửa lời bài hát của mình "hơn một trăm lần" và lấy cảm hứng từ "những thứ không biết nói. [Từ] những vật thể đẹp đẽ hơn là con người." Mặc dù hip hop là thể loại nhạc chính anh nghe, anh cũng nghe nhạc cổ điển và đặc biệt yêu thích ban nhạc rock Anh Pink Floyd.[95][96][nguồn không đáng tin?] Anh cũng lưu ý rằng vai trò là một nhạc sĩ đã ảnh hưởng đến diễn xuất của anh, giúp anh trở nên giàu cảm xúc hơn.[6] Trong khi trên phạm vi quốc tế, BigBang thường được gọi là nhóm nhạc "K-pop", T.O.P đã bày tỏ sự không hài lòng với cách gọi này, nhấn mạnh rằng "[bạn] không nên phân chia nhạc pop dựa trên người thể hiện. Ví dụ, chúng ta không nói 'nhạc pop da trắng' khi người da trắng làm nhạc."[97]

Từ thiện

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 2014, T.O.P tham gia thử thách dội nước đá lên đầu, một chiến dịch quốc tế nhằm phát triển phương pháp điều trị y tế cho bệnh Lou Gehrig, còn được gọi là xơ cột bên teo cơ (ALS). Ông đã quyên góp cho Quỹ Hy vọng Seungil, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh Lou Gehrig.[98][99] Vào tháng 10 năm 2016, hợp tác với nhà đấu giá Sotheby's của Anh, ông đã tuyển chọn một bộ sưu tập nghệ thuật đương đại như một phần của buổi đấu giá từ thiện đặc biệt tại Hồng Kông. Dự án có tên #TTTOP, và bao gồm 28 tác phẩm của các nghệ sĩ châu Á và phương Tây. Buổi đấu giá đã thu về hơn 135 triệu đô la Hồng Kông.[100][101][nguồn không đáng tin?] và một phần số tiền thu được đã được quyên góp cho Hội đồng Văn hóa châu Á (ACC) để hỗ trợ các nghệ sĩ trẻ triển vọng đến từ châu Á.

Ngày 4 tháng 11 năm 2018, để kỷ niệm sinh nhật của anh, người hâm mộ của T.O.P từ bốn quốc gia châu Á đã quyên góp 11 triệu won Hàn Quốc (9.900 đô la Mỹ) dưới tên anh cho Quỹ Phúc lợi Yongsan để giúp đỡ những người kém may mắn.[102][103]

Ngày 3 tháng 3 năm 2020, T.O.P., dưới tên pháp lý của mình, anh đã quyên góp 100 triệu won cho Hiệp hội Thảm họa Quốc gia Cầu Hy vọng của Daegu, thuộc tỉnh Bắc Gyeongsang. Số tiền này sẽ được sử dụng để cung cấp thiết bị bảo hộ cá nhân cho nhân viên y tế trong khu vực và hỗ trợ cuộc chiến chống COVID-19.[104]

Danh sách đĩa nhạc

[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách phim

[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tên phim Vai Kênh Bạn diễn
2007 I Am Sam Chae Mu-sin KBS2 Lee Min-ho, Park Min-young
2009 Iris Vick KBS2
2015 Secret Message Woo Hyun CJ E&M
2024 Squid Game 2 Thanos (Squid Game) Netflix

Phim điện ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tên Vai Ghi chú
2008 Story of Men Bản thân Cameo
2009 Nineteen Seo Jeong-hun
2010 71: Into the Fire Oh Jang-beom
2011 Iris the Movie Vick Bộ phim chuyển thể từ Iris chiếu tại Nhật Bản
2013 Commitment Lee Myeong-hoon / Kang Dae-ho
2014 Tazza: The Hidden Card Ham Dae-gil
2016 Big Bang Made Bản thân
2017 Out of Control[105] Tom Young

Video âm nhạc

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tên bài hát Nghệ sĩ
2007 "Hello" Red Roc
2008 "I'm Sorry" Gummy
"D.I.S.C.O" Uhm Jung Hwa
2011 "I'm Sorry" (Phiên bản tiếng Nhật) Gummy

Giải thưởng và đề cử

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Giải Hạng mục Đề cử cho Kết quả
2010 Grand Bell Awards lần thứ 47 Hallyu Popularity[106] 71: Into the Fire Đoạt giải
Nam diễn viên mới xuất sắc nhất[107] Đề cử
Korean Film Awards lần thứ 8 Nam diễn viên mới xuất sắc nhất[108]
Style Icon Awards Biểu tượng mới (Điện ảnh) [109] Đoạt giải
Blue Dragon Film Awards lần thứ 31 Nam diễn viên mới xuất sắc nhất[110]
Popularity Award[110]
Max Movie Awards Nam diễn viên mới xuất sắc nhất[111]
Asian Film Awards lần thứ 5 Nam diễn viên mới xuất sắc nhất[112] Đề cử
2011 Paeksang Arts Awards lần thứ 47 Nam diễn viên mới xuất sắc nhất[113] Đoạt giải
Popularity Award[113]
2013 BIFF Asia Star Awards lần thứ 17 Rookie Award[114] Commitment
2014 Paeksang Arts Awards Popularity Award Đề cử
Singapore Entertainment Awards Video âm nhạc K-pop nổi bật nhất Doom Dada
2015 Giải thưởng Prudential Eye Visual Culture Award Bản thân Đoạt giải
Giải Daejong lần thứ 52 Popularity Award Tazza: The Hidden Card Đề cử
2016 Giải thưởng DramaFever thường niên lần thứ 4 Drama SNS xuất sắc nhất Secret Message Đoạt giải
Phim điện ảnh xuất sắc nhất Tazza: The Hidden Card Đoạt giải

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ↑ "Interesting facts you didn't know about Choi Seung-hyun". Her World Singapore (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
  2. ↑ Mark Russell (ngày 29 tháng 4 năm 2014). K-Pop Now!: The Korean Music Revolution. Tuttle Publishing. tr. 34. ISBN 978-1-4629-1411-1.
  3. ↑ Spangler, Todd (ngày 26 tháng 4 năm 2017). "K-Pop Superstars BigBang Go Camping in YouTube Red's First Korean Show". Variety.com. Penske Media Corporation. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2017.
  4. ↑ Jung, Hyung-Mo (ngày 31 tháng 1 năm 2015). 멋진 의자 '득템'하면 행복 좋은 디자인엔 설렘이 있어 (bằng tiếng Hàn). JoongAng Sunday. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019.
  5. ↑ 빅뱅 탑, '외할아버지의 외삼촌' 김환기 화백 '우주' 132억 낙찰에 "자랑스럽다" (bằng tiếng Hàn). Star News. ngày 24 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019.
  6. 1 2 3 Kwon, Hye-jung (ngày 11 tháng 11 năm 2013). 최승현 "나는 외로워야 하는 사람인 것 같다"(인터뷰)텐아시아. 텐아시아 (bằng tiếng Korean (South Korea)). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2017.
  7. 1 2 新스타고백지드래곤⑤아이돌그룹 활동, 망설였다 (bằng tiếng Hàn). The Asia Business Daily. ngày 2 tháng 2 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  8. ↑ Chung Ah-young (ngày 13 tháng 2 năm 2009). "Big Bang Reveals Self-Fulfilment Strategies". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2009.
  9. 1 2 3 4 5 (bằng tiếng Hàn Quốc)"新스타고백지드래곤⑥'빅뱅' 별명은 '어떡해'였죠". The Asia Business Daily. ngày 3 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  10. ↑ "Big Bang Profile - T.O.P". Ministry of Culture, Sports and Tourism. Visit Korea. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2010.
  11. ↑ Nguyen, Nhu (ngày 26 tháng 5 năm 2016). "7 More of the hottest letters in the K-Pop alphabet". DramaFever News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2017.
  12. ↑ "Big Bang". KBS World. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010.
  13. ↑ '준비된 그룹' 빅뱅, 대폭발 예고. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). ngày 7 tháng 7 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010.
  14. ↑ "Album Sales for the Month of February 2007". Industry Association of Korea (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008.
  15. ↑ 빅뱅 쥬크온차트 8주 연속 1위 기염, JOO도 2주만에 7위 진입. Newsen (bằng tiếng Hàn). ngày 21 tháng 1 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008.
  16. ↑ "Big Bang's 'Day by Day' Sweeps J-Pop Charts for Four Weeks". KBS Global. ngày 8 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2008.
  17. ↑ 빅뱅 8월 신보 발매, 태양 솔로 데뷔는 미정. Newsen (bằng tiếng Hàn). ngày 18 tháng 7 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010.
  18. ↑ "Choi Seung Hyun YG Profile" (bằng tiếng Hàn). YG Entertainment. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2009.
  19. ↑ 탑(T.O.P), 단국대 입학 증명사진 화제 Lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2018 tại Wayback Machine. Etoday.co.kr. Retrieved on January 13, 2012.
  20. ↑ Chung Kang, Hyun (ngày 26 tháng 11 năm 2009). "New drama finds a gripping formula for success". Korea JoongAng Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009.
  21. ↑ Han Sang, Hee (ngày 24 tháng 5 năm 2009). "'Iris' to Bring Spy Story to Small Screen". The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009.
  22. ↑ "Big Bang duo star in murder movie". Korea JoongAng Daily. ngày 22 tháng 5 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009.
  23. ↑ Hicap, Jonathan M. (ngày 30 tháng 10 năm 2010). "'Poetry' wins best film at 47th Daejong Film Awards". Manila Bulletin. Manila Bulletin Publishing. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010.
  24. ↑ Yim, Seung-hye (ngày 5 tháng 2 năm 2010). "Actor Kwon Sang-woo injured while filming fight". Korea JoongAng Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2010.
  25. ↑ 탑-대성, 빅뱅 콘서트서 솔로곡 첫 공개 (bằng tiếng Hàn). OSEN. ngày 31 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2010.
  26. ↑ 빅뱅 탑 콘서트서 첫 솔로곡 뮤비 깜짝 공개 '올 상반기 활동'. Newsen (bằng tiếng Hàn). ngày 31 tháng 1 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2010.
  27. ↑ "Gaon Digital Chart Week 27". Gaon Chart. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  28. ↑ "Gaon Download Chart of 2010". Gaon Chart. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2014.
  29. ↑ "G-Dragon and Top to Release Duet Album in December". KBS Global. ngày 30 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  30. ↑ Kim, Jessica (ngày 15 tháng 12 năm 2010). "Big Bang T.O.P, G-Dragon pose at album showcase". 10asia. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  31. ↑ Kim, Jessica (ngày 15 tháng 12 năm 2010). "G-Dragon and T.O.P hold world premiere showcase for duo unit". 10asia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  32. ↑ Kim, Jessica (ngày 24 tháng 12 năm 2010). "Big Bang unit G-Dragon and T.O.P release third title track". 10asia. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  33. ↑ "Big Bang duo on TV today". Korea JoongAng Daily. International Herald Tribune. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  34. ↑ Kim, Heidi. "IU "Good Day" stays atop Gaon chart for 4th week". 10asia. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  35. ↑ Kim, Heidi. "IU's "Good Day" takes charge of Mnet chart for 4th week". 10asia. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  36. ↑ "Gaon Chart Search: GD & TOP". Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Industry Association. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010.
  37. ↑ '발매 D-2' GD·탑 유닛 첫앨범, 선주문만 '20만장' (GD&TOP's album receives 200,000 pre-orders). Daum (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011.
  38. ↑ "Big Bang's T.O.P. and Jo Sung Ha Confirmed for "Alumni"". Soompi. ngày 8 tháng 6 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2012.
  39. ↑ "Kim Yoo Jung to Play T.O.P's Younger Sister in New Movie". Soompi. ngày 25 tháng 6 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2012.
  40. ↑ Son, Angela (ngày 11 tháng 11 năm 2013). "Interview With TOP On Movie "The Commitment"". KDramaStars. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2017.
  41. 1 2 Stanley, Adrienne (ngày 4 tháng 11 năm 2014). "Five Reasons Big Bang T.O.P Is One Of The Most Awesome K-Pop Idols". KpopStarz. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2017.
  42. ↑ "2013's Hottest Sex Symbols". Rolling Stone. ngày 17 tháng 12 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2013.
  43. ↑ "'YG Music' DOOM DADA". Genie. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2013.
  44. ↑ "Performances from the '2013 MAMA'!". Allkpop. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2013.
  45. ↑ Glasby, Taylor (ngày 10 tháng 12 năm 2013). "Top ten K-Pop of 2013". Dazed Digital. Dazed & Confused. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2016.
  46. ↑ "GD&TOP to feature in English singer Pixie Lott's new Japanese release". Allkpop. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012.
  47. ↑ "T.O.P to Debut as Furniture Designer in 2015 in Collaboration with Switzerland-based Brand VITRA". YGUnited. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015.
  48. ↑ "Big Bang's T.O.P awarded Visual Culture Award for his artistic interests from 'Prudential Eye Awards'". Allkpop. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015.
  49. ↑ Frater, Patrick (ngày 12 tháng 4 năm 2016). "T.O.P., Cecilia Cheung Star in Germany-Set Thriller 'Out of Control'". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2016.
  50. ↑ E., Maolen (ngày 22 tháng 11 năm 2016). "BIGBANG's T.O.P confirms military enlistment date". Yibada. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2016.
  51. ↑ "The Full Story Behind T.O.P's Drug Scandal, And The Mysterious Trainee Woman". ngày 2 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2017.
  52. ↑ Jun, R. "BIGBANG's T.O.P To Be Dismissed From Duty For Duration of Prosecution". Soompi. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2017.
  53. ↑ "Medical expert comments on T.O.P's benzodiazepine overdose". Allkpop. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2017.
  54. ↑ "BIGBANG's T.O.P hospitalized for drug overdose". Yonhap News Agency. ngày 6 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2017.
  55. ↑ "K-pop superstar T.O.P. in intensive care after overdose". BBC. ngày 8 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2017.
  56. ↑ Kim Jung-kyoon (ngày 30 tháng 6 năm 2017). "T.O.P admits to all charges at first hearing". Korea JoongAng Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2017.
  57. ↑ "Big Bang's T.O.P pleads guilty to pot charges". The Jakarta Post. ngày 30 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2017.
  58. ↑ Park Hyeong-taek (ngày 29 tháng 6 năm 2017). "[SC현장] 탑, 대마초 4회 흡연 시인…"공소사실 모두 인정"" [[SC scene] Top, smoking four po ... "All the facts of the charges"]. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2017.
  59. ↑ "(LEAD) BIGBANG's T.O.P. gets suspended sentence for marijuana use". Yonhap News Agency. ngày 20 tháng 7 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2017.
  60. ↑ Lee Young-jae (ngày 28 tháng 8 năm 2017). '대마초 흡연' 빅뱅 탑, 의경에서 사회복무 요원 됐다. Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2017.
  61. ↑ Kim Ji-heon (ngày 28 tháng 8 năm 2017). '대마초' 빅뱅 탑, 오늘 의경 전역…사회복무요원으로 근무. Yonhap News Agency (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2017.
  62. ↑ "BIGBANG's T.O.P to resume military duty at Yongsan Ward". Yonhap News Agency. ngày 4 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2018.
  63. ↑ Eun-Jung, Kim (ngày 6 tháng 7 năm 2019). "BIGBANG's T.O.P released from military service". Yonhap News Agency (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2019.
  64. ↑ 탑 최승현 소집해제…용산구청 "7월 8일 복무 끝, 병가 논란 관련無" (bằng tiếng Hàn). MBC Sports+. ngày 21 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2019.
  65. ↑ "G-Dragon and T.O.P Were Listed on '50 Art Collectors to Watch' by ARTnews".
  66. ↑ Woo Bin (ngày 7 tháng 2 năm 2022). [공식] 빅뱅 탑, YG와 계약 종료…"여건이 되면 언제든 활동 합류 [[Official] BIGBANG T.O.P ends contract with YG... "Join activities whenever the circumstances allow] (bằng tiếng Hàn). Ten Asia. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2022 – qua Naver.
  67. ↑ Zwei, Puah (ngày 31 tháng 5 năm 2023). "T.O.P says he has "already withdrawn" from Big Bang". NME. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2023.
  68. ↑ Netflix (ngày 4 tháng 12 năm 2024). Squid Game: Season 2 | Meet the Cast | Netflix. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2024 – qua YouTube.
  69. ↑ Garner, Glenn (ngày 28 tháng 12 năm 2024). "'Squid Game' Creator Praises K-Pop Star T.O.P's Onscreen "Comeback" After Marijuana Scandal". Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2024.
  70. ↑ Cobb, Kayla (ngày 1 tháng 1 năm 2025). "Who Plays Thanos in 'Squid Game' Season 2? How Choi Seung-Hyun, aka TOP, Brought His Rapper Persona to Netflix". The Wrap. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2025.
  71. 1 2 3 Kim, Ga-yeon (ngày 5 tháng 1 năm 2025). '오겜2' 감독 "빅뱅 탑, 그렇게 용서받지 못한 줄 몰랐다". The Chosun Ilbo. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2025.
  72. ↑ Yoon, Hyun-ji (ngày 9 tháng 1 năm 2025). '오겜2' 임시완 "탑, 갈비뼈 부러진 채 연기…나라면 못해" [엑's 인터뷰]. Xports News. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2025.
  73. ↑ Wigler, Josh (ngày 2 tháng 1 năm 2025). "'Squid Game' Creator Reveals How Violent Finale Sets Up Final Season of Netflix Hit". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2025.
  74. ↑ "Squid Game 2 Actor T.O.P Snubbed AGAIN: His Blurred Face During Live Show Sparks Controversy". News 24. ngày 8 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2025.
  75. 1 2 Kim, Jong-eun (ngày 10 tháng 1 năm 2025). '오겜2' 탑, 인터뷰진행확정…마약·인맥캐스팅논란정면돌파[공식]. TV Daily. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2025.
  76. ↑ "T.O.P to confront 'Squid Game' casting, drugs, acting disputes in interview". Korea Times. ngày 10 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2025.
  77. 1 2 Ha, Soo-jung (ngày 4 tháng 1 năm 2025). '오징어게임2' 감독, 탑 연기 혹평에 "약에 취한 타노스 잘했다 생각" [인터뷰②]. The Korea Daily. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2025.
  78. ↑ Kang, Esther (ngày 28 tháng 12 năm 2024). "Squid Game Director Calls Season 2 a 'Comeback' for K-Pop Star T.O.P. After Marijuana Scandal: 'A Lot of Guts' (Exclusive)". People. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2025.
  79. ↑ 최악과 최고 사이.. '오징어 게임2' 탑 향한 극과 극 시선. Korea Times. ngày 4 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2025.
  80. ↑ "Actually, T.O.P's Thanos was the highlight of Squid Game 2". The FADER (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2025.
  81. ↑ "MSN". www.msn.com. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2025.
  82. ↑ Hill-Paul, Lucas (ngày 30 tháng 12 năm 2024). "Squid Game fans defend 'hated' character after he's branded 'unbearable'". The Mirror US (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2025.
  83. ↑ Coates, Lauren (ngày 2 tháng 6 năm 2025). "'Squid Game 2' Cast on Connecting With Fans and Relating to Their Characters: 'Thanos Isn't A Villain, but He Is a Man-Child'". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2025.
  84. ↑ Errico, Marcus (ngày 2 tháng 5 năm 2025). "How Lee Jung-jae and the rest of the Season 2 'Squid Game' squad are submitting for Emmy acting categories". Gold Derby. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2025.
  85. ↑ 윤, 기백 (ngày 1 tháng 1 năm 2026). "탑, 솔로 컴백 예고… 빅뱅 20주년에 '다중관점' 발매". edaily.co.kr. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2026.
  86. ↑ Kim, Jin-seok (ngày 9 tháng 2 năm 2026). "[단독]나나, 13년만 컴백하는 탑의 뮤즈… M/V 출연". mydaily.
  87. ↑ 배, 우근 (ngày 20 tháng 3 năm 2026). "탑, 은퇴라더니 결국 컴백…대마초 논란 8년만에 솔로 복귀". m.news.nate.com. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2026.
  88. ↑ Hancocks, Paula (ngày 9 tháng 9 năm 2016). "Will South Korea's military service derail K-pop mega-group Big Bang?". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2016.
  89. ↑ "G-Dragon and Top: 'Rappers Acknowledge Our Instinctive Hip Hop'". KBS World. ngày 7 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019.
  90. ↑ Benjamin, Jeff. "BIGBANG in America: Behind the Scenes With the K-Pop Boy Wonders". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012.
  91. 1 2 Herman, Tamar (ngày 9 tháng 2 năm 2017). "BIGBANG's T.O.P's 10 Most Memorable Songs". Billboard K-Town. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2017.
  92. ↑ "BIG BANG'S < T.O.P > TURNS UP THE HEAT ON ITUNES HIP-HOP/RAP SINGLES CHARTS WORLDWIDE". DFSB Kollective. ngày 22 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  93. ↑ Glasby, Taylor (ngày 10 tháng 12 năm 2013). "Top ten K-Pop of 2013". Dazed Digital. Dazed & Confused. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2016.
  94. 1 2 3 Kim, Jessica (ngày 15 tháng 12 năm 2010). "G-Dragon and T.O.P hold world premiere showcase for duo unit". 10asia. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  95. ↑ "T.O.P'S INTERVIEW WITH ESQUIRE: "MAD TO BE NORMAL" (MAY 2015)". IMagazine (original, dead link with no archive), Big Bang Update (translated). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2017.
  96. ↑ "Big Bang's T.O.P Poses on Cover of Dazed". ngày 25 tháng 9 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2017.
  97. ↑ Fifield, Anna (ngày 3 tháng 3 năm 2016). "They're the biggest band in Asia, but Big Bang's days may be numbered". The Washington Post (bằng tiếng Anh). ISSN 0190-8286. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2016.
  98. ↑ 빅뱅 탑 태양, GD 이어 아이스버킷 챌린지 동참 "기부하겠다". Newsen (bằng tiếng Hàn). ngày 24 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2018.
  99. ↑ "T.O.P - ALS Ice Bucket Challenge". BIGBANG Facebook. ngày 23 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2018.
  100. ↑ "#TTTOP :: Sotheby's". Sotheby's. ngày 3 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2016.
  101. ↑ Yugee (ngày 3 tháng 10 năm 2016). "BIGBANG's T.O.P. Talks About His Passion For Art in CNN Style Interview". Korea Portal. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2017.
  102. ↑ 빅뱅 탑 4개국 팬 연합, 용산복지재단에 1천만원 기부. Seoul Economic Daily (bằng tiếng Hàn). ngày 5 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2018 – qua Naver.
  103. ↑ Lim Jeong-yeo (ngày 5 tháng 11 năm 2018). "Big Bang T.O.P's fans from 4 countries donate 11m won". The Jakarta Post. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2018.
  104. ↑ 박, 혜민 (ngày 15 tháng 4 năm 2021). 탑 기부. 천지일보.
  105. ↑ "Kpop News: BigBang T.O.P to star in a Chinese Movie". News Every Day. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2024.
  106. ↑ "[아츠포토] '시' 윤정희-이창동감독, '대종상영화제' 참석" (bằng tiếng Hàn). Arts News. ngày 30 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011.
  107. ↑ "ホーム»第47回大鐘賞映画祭授賞式公式観覧ツアー" (bằng tiếng Nhật). 韓流コンサート. ngày 30 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011.
  108. ↑ "8th Korea Film Awards" (bằng tiếng Hàn). MBC. ngày 10 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011.
  109. ↑ Han, Jiyoung (ngày 18 tháng 11 năm 2010). "올해 스타일아이콘 어워즈, 이병헌-소지섭-신민아 엣지있는 이유는?(종합)" (bằng tiếng Hàn). Newsen. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011.
  110. 1 2 "제 31회 / 의형제" (bằng tiếng Hàn). Blue Dragon Film Awards. ngày 27 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011.
  111. ↑ "제8회 맥스무비 최고의 영화상" (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2011.
  112. ↑ "5th AFA Nominees & Winners by Nominees" (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2011.
  113. 1 2 "Winners of 47th Baeksang Award" (bằng tiếng Hàn). Allkpop. ngày 26 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011.
  114. ↑ "[T.O.P becomes the only Korean celebrity to be awarded at BIFF's 'Asia Star Awards'" (bằng tiếng Hàn). Big Bang Updates. ngày 6 tháng 10 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2013.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]